Bài viết dưới đây sẽ khám phá nguồn gốc, quy trình sản xuất và các loại enever phổ biến nhé!
Genever còn được gọi là Hollands, Jenever - tên gọi bắt nguồn từ tiếng Hà Lan, mang nghĩa là “bách xù”. Dù cùng có hương bách xù đặc trưng, Genever không chỉ phiên bản Gin của Hà Lan. Đây là loại rượu mạnh trong suốt, có hương vị ngũ cốc và thảo mộc phong phú, được sản xuất tại Hà Lan hoặc Bỉ.
Để sản xuất nên Genever, nhà sản xuất sẽ pha trộn nhiều loại rượu chưng cất từ các loại ngũ cốc như ngô, lúa mì và lúa mạch đen với rượu có hương bách xù. Một số loại còn được bổ sung hương thảo mộc để tạo mùi vị phong phú.
Có thể hình dung genever là sự giao thoa giữa whisky và gin: vừa có hương ngũ cốc đậm đà, vừa mang mùi thơm tươi mát của bách xù và thảo mộc.
LỊCH SỬ SẢN XUẤT CỦA GENEVER
Ban đầu, Jenever được sản xuất bằng cách chưng cất rượu mạch nha, gọi là moutwijn đến nồng độ cồn khoảng 50%. Do kỹ thuật chưng cất thời đó còn đơn sơ và chủ yếu sử dụng nồi chưng cất truyền thống, rượu thành phẩm có mùi vị khá gắt. Để rượu dễ uống hơn, họ bắt đầu thêm các loại thảo mộc và gia vị nhằm làm dịu hương vị. Khi đó, quả bách xù được sử dụng vì từng được cho là có tác dụng chữa bệnh. Tên gọi Jenever bắt nguồn từ jeneverbes (quả bách xù trong tiếng Hà Lan hay Gin trong tiếng Anh).
Vào cuối thế kỷ 16, Jenever được bán như một loại thuốc. Nhiều người cho rằng người làm ra loại rượu này là Sylvius de Bouve, một bác sĩ kiêm nhà giả kim người Hà Lan. Tuy nhiên, giả thuyết này không phù hợp với các mốc lịch sử. Sylvius sinh vào thế kỷ 17 và từng có 14 năm giảng dạy tại Đại học Leiden. Dù ông nghiên cứu việc chưng cất thuốc bằng tinh dầu quả bách xù, không có công trình nào của ông đề cập đến Jenever.
Trên thực tế, Jenever đã xuất hiện trong các tài liệu từ trước thời Sylvius. Cuốn Der Naturen Bloeme ghi nhận loại rượu này tại Bruges, vùng Flanders, từ thế kỷ 13. Đến thế kỷ 16, cuốn Een Constelijck Distileerboec xuất bản tại Antwerp đã ghi lại công thức Jenever được in đầu tiên.
Đến năm 1606, Hà Lan bắt đầu đánh thuế Jenever và các loại rượu tương tự được bán để uống. Jenever cũng dần được biết đến tại Anh dưới tên gọi Geneva. Tên gọi này được cho là gắn với những binh lính Anh mang rượu từ Vùng Lowland trở về sau các cuộc chiến vào năm 1587 và đầu những năm 1600. Đến năm 1623, từ “Geneva” đã xuất hiện trong vở kịch Công tước xứ Milan của Philip Massinger.
GENEVER KHÁC SO VỚI GIN NHƯ THẾ NÀO?
Điểm tạo nên sự khác biệt của Genever so với Gin hiện đại chính là rượu mạch nha (moutwijn), một loại rượu nền được chưng cất từ hỗn hợp ngũ cốc như lúa mạch mạch nha, lúa mạch đen, ngô và lúa mì
CÁC LOẠI RƯỢU GENEVER PHỔ BIẾN

Jenever được chia thành hai phong cách chính: Oude (cũ) và Jonge (mới). Khoảng năm 1900, sự phát triển của kỹ thuật chưng cất tạo ra rượu có hương vị nhẹ và gần như trung tính. Cùng với xu hướng ưa chuộng các loại rượu dễ uống, giá thành thấp hơn, Jonge Jenever ra đời như một phiên bản hiện đại của Jenever truyền thống.
Trong Thế chiến II, tình trạng thiếu hụt ngũ cốc và mạch nha khiến các nhà sản xuất phải sử dụng rượu trung tính, bao gồm cả rượu làm từ mật đường củ cải đường, để thay thế một phần rượu mạch nha. Từ đó, hai tên gọi Oude và Jonge được sử dụng để phân biệt phong cách truyền thống và hiện đại.
Ngày nay, Jenever được phân thành ba loại phổ biến:
+ Jonge Genever (trẻ) - chứa tối đa 15% rượu mạch nha và không quá 10 g đường/lít. Loại này có hương vị nhẹ, thanh và ít nổi bật vị ngũ cốc.
+ Oude Genever: chứa ít nhất 15% rượu mạch nha và không quá 20 g đường/lít, mang đến hương vị ngũ cốc sắc nét cùng cấu trúc đầy đăn và hơi ngọt. Một số phiên bản còn được ủ trong thùng gỗ sồi.
+ Korenwijin: phong cách Genever với hàm lượng rượu mạch nha cao từ 51%. Thường mang đến hương vị ngũ cốc đậm đà, cấu trúc phong phú, đặc điểm giống whisky.
CÁCH THƯỞNG THỨC GENEVER
Rượu có thể uống nguyên chất hoặc thêm đá để cảm nhận rõ hương vị của rượu.
Genever cũng có thể uống kèm bia, pha với cola theo kiểu Dutch Coke, hoặc kết hợp với ginger ale hay pha chế cocktails.